Kính mời Quý Độc giả theo dõi Kỳ 1 tại đây.
3. Phương án đấu nối điện nhập khẩu vào hệ thống điện Việt Nam
3.1. Phương án đấu nối điện nhập khẩu theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh
Quy hoạch điện VIII điều chỉnh cập nhật việc xuất nhập khẩu điện: Thực hiện kết nối, trao đổi điện năng có hiệu quả với các nước trong khu vực, bảo đảm lợi ích của các bên, tăng cường an toàn hệ thống điện; đẩy mạnh nhập khẩu điện từ các nước Đông Nam Á (ASEAN) và Tiểu vùng sông Mê Kông (GMS) có tiềm năng về thủy điện. Năm 2030, nhập khẩu khoảng 9.360 – 12.100 MW từ Lào theo Hiệp định giữa hai Chính phủ và tận dụng khả năng nhập khẩu phù hợp với điều kiện đấu nối từ Trung Quốc với quy mô hợp lý; định hướng năm 2050, nhập khẩu khoảng 14.688 MW. Nếu điều kiện thuận lợi, giá thành hợp lý, có thể tăng thêm quy mô tối đa hoặc đẩy sớm thời gian nhập khẩu điện từ Lào về khu vực miền Bắc.
Các đường dây phục vụ nhập khẩu điện theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh như sau:
Bảng 4: Các đường dây liên kết nhập khẩu điện theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh



Hình 5: Các đường dây 500 kV phục vụ nhập khẩu điện theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh
3.2. Các phương án đấu nối tăng cường điện nhập khẩu
3.2.1. Sự cần thiết xây dựng trục đường dây truyền tải phía Lào để tăng cường nhập khẩu điện về Việt Nam
Hiện nay, vướng mắc lớn nhất trong việc nhập khẩu điện từ Lào về Việt Nam nằm ở hai vấn đề chính: hạ tầng truyền tải điện xuyên biên giới và thỏa thuận đấu nối giữa các nhà máy điện tại Lào. Mặc dù tiềm năng nguồn điện từ Lào rất lớn, đặc biệt là từ thuỷ điện và điện gió, nhưng thiếu cơ chế phối hợp đấu nối đồng bộ và chưa có hệ thống truyền tải đủ công suất đã khiến quá trình nhập khẩu gặp nhiều trở ngại.
Về hạ tầng truyền tải điện, nguyên nhân chính là do tồn tại "nút thắt cổ chai" giới hạn về khả năng mang tải trên giao diện truyền tải Bắc – Trung hiện hữu, gây ra trở ngại lớn trong việc giải tỏa công suất và khai thác hiệu quả tiềm năng nhập khẩu điện từ Lào. Theo tính toán cho giai đoạn đến năm 2030, với danh mục các đường dây liên kết nhập khẩu Lào – Việt theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh (xét đến khả thi vận hành), công suất hấp thụ của hệ thống điện Việt Nam chỉ đạt khoảng 8,3 GW (khoảng 33% công suất tiềm năng).
Trong khi đó, tình hình phụ tải tại miền Bắc đang tăng mạnh. Theo thông tin từ NSMO [1], từ 13h30 đến 14h30 ngày 04/08/2025, công suất cực đại miền Bắc đã đạt khoảng 28.500 MW, tăng hơn 3.000 MW (~12%) so với cùng kỳ năm trước và là mức cao nhất kể từ đầu năm. Ngay cả trong những ngày cuối tuần, công suất cực đại vẫn lên tới 25.761 MW, cao hơn 4.000 – 5.000 MW so với mức trung bình các ngày nghỉ trước đó – một con số tương đương gần gấp đôi công suất Nhà máy Thủy điện Sơn La (2.400 MW).

Hình 6: Liên kết nhập khẩu điện từ Lào về Việt Nam vào giai đoạn đến năm 2030
Dự báo giai đoạn sau 2025, hệ thống điện miền Bắc sẽ thường xuyên rơi vào tình trạng thiếu điện, với mức thiếu hụt công suất cực đại lên tới 14.769 MW và sản lượng điện thiếu hụt lớn nhất vào khoảng 4.246,4 triệu kWh trong năm 2030, đặc biệt trong các kịch bản nắng nóng kéo dài, thủy văn và nguồn nhiên liệu trong nước gặp nhiều khó khăn.
Ngoài ra, giai đoạn sau năm 2030, miền Nam cũng có nhu cầu cấp thiết về nguồn điện. Khu vực này vốn có tốc độ tăng trưởng phụ tải cao nhất cả nước, trung bình 8-10%/năm, nhờ động lực từ các trung tâm công nghiệp và dịch vụ tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai. Tuy nhiên, nhiều dự án nguồn điện quy mô lớn trong quy hoạch có nguy cơ chậm tiến độ, đặc biệt là các dự án nhiệt điện LNG Bạc Liêu, LNG Long An, LNG Cà Ná.
Theo các kịch bản dự báo của Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, đến năm 2030, phụ tải cực đại miền Nam có thể vượt 40.000 MW, trong khi nguồn điện nội vùng có nguy cơ không đáp ứng đủ. Nếu không có giải pháp bổ sung kịp thời, mức thiếu hụt công suất cực đại có thể lên tới 8.000–10.000 MW, đặc biệt vào mùa khô khi thủy điện trong khu vực cạn kiệt và LNG nhập khẩu gặp khó khăn về hạ tầng tiếp nhận. Ngay cả trong trường hợp huy động tối đa nguồn năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời), nguy cơ thiếu hụt vẫn hiện hữu do tính không ổn định và giới hạn khả năng truyền tải của lưới điện liên kết.
Như vậy, cả miền Bắc và miền Nam đều đứng trước nguy cơ mất cân đối cung – cầu nghiêm trọng sau năm 2030, đòi hỏi các giải pháp cấp bách về bổ sung nguồn điện nhằm đảm bảo an ninh cung cấp điện quốc gia.
Để giải quyết vấn đề trên, cần xem xét phương án “Xây dựng trục đường dây 500 kV phía Lào để tăng cường nhập khẩu điện về Việt Nam”. Giải pháp này không chỉ giúp xóa bỏ các điểm nghẽn truyền tải hiện hữu, mà còn giúp ổn định nguồn cung đáng tin cậy cho Việt Nam trong các giai đoạn cao điểm phụ tải 2030 – 2035. Việc tăng quy mô nhập khẩu điện sẽ tạo điều kiện để Lào phát triển mạnh mẽ các nguồn năng lượng tái tạo, qua đó thu hút vốn dòng đầu tư và tăng nguồn thu ngân sách cho Chính phủ Lào.
Về lâu dài, trục 500 kV liên kết này sẽ góp phần tăng cường hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Lào trong lĩnh vực năng lượng, phù hợp với định hướng phát triển hạ tầng khu vực và chiến lược bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Giải pháp này cũng phù hợp với định hướng của Chính phủ Lào theo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia Lào giai đoạn 2026 – 2035, về việc nghiên cứu xây dựng hệ thống truyền tải điện quốc gia cấp điện áp 500 kV chạy dọc từ Bắc vào Nam, với mục tiêu tối ưu hóa phân bổ nguồn phát và nâng cao hiệu quả phân phối điện năng. Kế hoạch này bao gồm khoảng 957 km đường dây 500 kV, đóng vai trò là trục xương sống của lưới điện quốc gia Lào. Tuy nhiên, đến nay, Chính phủ Lào vẫn chưa đưa ra phương án triển khai cụ thể cho dự án này do chưa xác định được nhà đầu tư, thiếu nguồn vốn và chưa có cơ chế thu phí truyền tải điện rõ ràng, khiến tiến độ thực hiện còn bỏ ngỏ.
3.2.2. Các công trình tăng cường để gom công suất các nguồn điện phía Lào
Do quy mô nguồn điện nhập khẩu từ Lào dự kiến rất lớn, bên cạnh các đường dây liên kết Lào – Việt theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, PECC2 đã thực hiện xem xét bổ sung thêm trục ĐD 500 kV phía Lào để gom công suất các nguồn điện. Sau đó, kết hợp với ĐD HVDC để truyền tải công suất về miền Bắc và miền Nam Việt Nam. Danh mục các công trình đề xuất như sau:
- Danh mục công trình 500 kV phía Lào:
- Danh mục công trình HVDC để truyền tải công suất về Việt Nam:
3.2.3. Công trình đề xuất phía Việt Nam để đảm bảo giải tỏa công suất
Để đảm bảo giải tỏa công suất các nguồn điện nhập khẩu từ Lào vào giai đoạn 2031 – 2035, PECC2 đề xuất bổ sung thêm danh mục công trình sau:

Hình 7: Phương án “Xây dựng trục đường dây 500 kV phía Lào để tăng cường nhập khẩu điện về Việt Nam”.
3.3. Đánh giá ổn định hệ thống điện khi tăng cường nhập khẩu điện
3.3.1. Đánh giá ảnh hưởng về mặt ổn định trong vận hành hệ thống điện Việt Nam khi nhập khẩu điện từ Lào
Việc nhập khẩu khoảng 9.847 MW điện từ Lào vào giai đoạn đến năm 2030, trong đó các nguồn điện gió chiếm khoảng 76%, các nguồn này mang tính biến động cao về công suất. Điều này đòi hỏi phải có đánh giá kỹ lưỡng về yếu tố ổn định của hệ thống. PECC2 đã thực hiện tính toán đánh giá ảnh hưởng về mặt ổn định trong vận hành hệ thống điện Việt Nam khi nhập khẩu điện từ Lào.
Kết quả tính toán đánh giá ảnh hưởng về mặt ổn định trong vận hành hệ thống điện Việt Nam khi nhập khẩu điện từ Lào được tóm tắt trong bảng sau:
Bảng 5: Kết quả tính toán đánh giá ảnh hưởng về mặt ổn định trong vận hành hệ thống điện Việt Nam khi nhập khẩu điện từ Lào
|
Chế độ |
Nguồn nhập khẩu từ Lào (MW) (1) |
Nguồn Việt Nam (MW) (2) |
Tổng nguồn (1) + (2) |
Ổn định |
||||
|
|
|
|||||||
|
Nguồn truyền thống |
Nguồn NLTT |
Nguồn truyền thống |
Nguồn NLTT |
Điều kiện về điện áp |
Điều kiện về tần số |
Điều kiện về góc pha |
||
|
Phụ tải cực đại - Mùa mưa |
2.352 |
7.495 |
69.969 |
13.779 |
93.595 |
Đạt |
Đạt |
Đạt |
|
3% |
8% |
75% |
15% |
100% |
||||
|
Phụ tải cực đại - Mùa khô |
1.176 |
7.495 |
64.911 |
19.903 |
93.485 |
Đạt |
Đạt |
Đạt |
|
1% |
8% |
69% |
21% |
100% |
||||
3.3.2. Giải pháp vận hành kết hợp (hybrid) giữa thủy điện và năng lượng tái tạo
Mô hình hybrid kết hợp giữa nhà máy thủy điện và các nguồn năng lượng tái tạo như gió và mặt trời hoạt động dựa trên sự bù trừ và bổ sung lẫn nhau, tận dụng ưu điểm của từng loại hình năng lượng. Nguyên lý cơ bản là tận dụng phát tối đa các nguồn năng lượng tái tạo như gió và mặt trời, nhà máy thủy điện đóng vai trò chạy bù và duy trì ổn định công suất phát, sử dụng tối đa năng lực truyền tải. Giải pháp này có các đặc điểm sau:
Biểu đồ phát nguyên lý giải pháp hybrid của nhà máy thủy điện và NLTT được thể hiện qua đồ thị dưới đây:

Hình 8: Biểu đồ phát nguyên lý giải pháp hybrid của nhà máy thủy điện và NLTT.
Để đánh giá chi tiết hơn, PECC2 đã thực hiện thống kê cơ cấu loại hình nguồn điện theo từng vị trí tiếp nhận nguồn điện nhập khẩu Lào giai đoạn đến năm 2030.
Để làm rõ hiệu quả của giải pháp vận hành hybrid, PECC2 đã thực hiện tiến hành mô phỏng biểu đồ phát trong một ngày, minh họa sự kết hợp giữa nguồn thủy điện và nguồn điện gió tại điểm hấp thụ TBA 500 kV Thạnh Mỹ, TC 220 kV Đăk Oóc (Thủy điện: 519 MW, điện gió: 1.300 MW) vào giai đoạn đến năm 2030. Kết quả được thể hiện qua đồ thị.

Hình 9: Cơ cấu loại hình nguồn theo từng khu vực hấp thụ giai đoạn đến năm 2030.

Hình 10: Biểu đồ minh họa sự kết hợp giữa nguồn thủy điện và nguồn điện gió tại điểm hấp thụ TBA 500 kV Thạnh Mỹ, TC 220 kV Đăk Oóc.
4. Giải pháp giải tỏa công suất nhập khẩu tại khu vực tiếp nhận
4.1. Tính toán năng lực nhập khẩu của các đường dây liên kết Lào – Việt cho giai đoạn đến năm 2030
PECC2 đã thực hiện tính toán năng lực nhập khẩu của các đường dây liên kết Lào – Việt vào giai đoạn đến năm 2030, trên các giả thiết như sau:

Hình 11: Lưu đồ thực hiện tính toán năng lực nhập khẩu của các đường dây liên kết Lào – Việt cho giai đoạn đến năm 2030.
PECC2 đã thực hiện tính toán khả năng hấp thụ vào năm 2030, kết quả tính toán thực hiện giải pháp bypass tụ bù dọc của ĐD 500 kV Nghi Sơn – Nho Quan. Giải pháp này nhằm khắc phục tình trạng quá tải tại nút thắt cổ chai trên trục ĐD 500 kV mạch 1, 2 hiện hữu, đồng thời tăng cường khả năng tiếp nhận công suất của hệ thống.
Công suất nhập khẩu từ Lào bị ràng buộc bởi khả năng tải của HTĐ Việt Nam. PECC2 đã thực hiện ghi nhận mức mang tải ứng với lượng công suất nhập khẩu từ Lào tối đa mà vẫn đảm bảo vận hành HTĐ Việt Nam, cụ thể như sau:
Bảng 6: Năng lực nhập khẩu của các đường dây liên kết Lào – Việt vào giai đoạn đến năm 2030
|
TT |
Đường dây kết nối |
Cấp |
Giai đoạn |
Khả năng hấp thụ theo tiêu chí N-0 (MW) |
Khả năng hấp thụ theo tiêu chí N-1 (MW) |
|
1 |
ĐD 500 kV 02 mạch Sam Neua – TC Hòa Bình 2 |
500 |
2026-2030 |
1.680 |
1.200 |
|
2 |
ĐD 220 kV 02 mạch TĐ Nậm Sum (Lào) – Nông Cống |
220 |
Đang vận hành |
473 |
473 |
|
3 |
ĐD 500 kV ĐG Phila - TC 500 kV Nam Cấm |
500 |
2026-2030 |
1.760 |
1.600 |
|
4 |
ĐD 500 kV ĐG Cha Lo - 500 kV Hà Tĩnh |
500 |
2026-2030 |
960 |
800 |
|
5 |
ĐD 220 kV 02 mạch Nậm Mô 2 (Lào) – Tương Dương |
220 |
Đang vận hành |
608 |
608 |
|
6 |
ĐD 220 kV 02 mạch Trường Sơn – Đô Lương |
220 |
2025 |
480 |
480 |
|
7 |
ĐD 500 kV 02 mạch Cụm NMĐ Xebanghieng (Lào) – 500 kV Lao Bảo |
500 |
2026-2030 |
1.963 |
1.163 |
|
8 |
ĐD 500 kV 02 mạch Monsoon – Thạnh Mỹ |
500 |
Đang vận hành |
2.039
|
1.559
|
|
ĐD 220 kV 02 mạch TĐ Xekaman 3 – TBA 500 kV Thạnh Mỹ |
220 |
Đang vận hành |
|||
|
9 |
ĐD 220 kV 04 mạch Trạm cắt 220 kV Đắk Ooc – Rẽ Xekaman 3 – Thạnh Mỹ |
220 |
Đang vận hành |
||
|
10 |
ĐD 220 kV 02 mạch cụm TĐ Xekaman 1 – TBA 500 kV Pleiku 2 |
220 |
Đang vận hành |
465 |
465 |
|
11 |
ĐD 220 kV 04 mạch Trạm cắt 220 kV Bờ Y rẽ TĐ Xekaman 1 – Pleiku 2 |
220 |
Đang vận hành |
||
|
|
Tổng |
|
|
10.428 |
8.348 |
4.2. Tính toán năng lực nhập khẩu của các đường dây liên kết Lào – Việt cho giai đoạn đến năm 2035
Kết quả tính toán năng lực nhập khẩu của các đường dây liên kết Lào – Việt cho giai đoạn 2031 – 2035 được tóm tắt ở bảng sau:
Bảng 7: Năng lực nhập khẩu của các đường dây liên kết Lào – Việt cho giai đoạn 2031 – 2035
|
TT |
Đường dây kết nối |
Cấp điện áp |
Giai đoạn |
Giai đoạn 2031 - 2035 |
|
|
Khả năng hấp thụ theo tiêu chí N-0 (MW) |
Khả năng hấp thụ theo tiêu chí N-1 (MW) |
||||
|
1 |
ĐD 500 kV 02 mạch Sam Neua – TC Hòa Bình 2 |
500 |
2026-2030 |
1.680 |
1.200 |
|
2 |
ĐD 220 kV 02 mạch TĐ Nam Sum (Lào) – Nông Cống |
220 |
Đang vận hành |
473 |
473 |
|
3 |
ĐD 500 kV Phila - 500 kV Nam Cấm |
500 |
2026-2030 |
1.760 |
1.600 |
|
4 |
ĐD 500 kV Cha Lo - 500 kV Hà Tĩnh |
500 |
2026-2030 |
960 |
800 |
|
5 |
ĐD 220 kV 02 mạch Nậm Mô 2 (Lào) – Tương Dương |
220 |
Đang vận hành |
608 |
608 |
|
6 |
ĐD 220 kV 02 mạch Trường Sơn – Đô Lương |
220 |
2025 |
480 |
480 |
|
7 |
ĐD 500 kV 02 mạch Cụm NMĐ Xebanghieng (Lào) – 500 kV Lao Bảo |
500 |
2026-2030 |
1.963 |
1.163 |
|
8 |
ĐD 500 kV 02 mạch Monsoon – Thạnh Mỹ |
500 |
Đang vận hành |
2.039 |
1.559 |
|
ĐD 220 kV 02 mạch TĐ Xekaman 3 – TBA 500 kV Thạnh Mỹ |
220 |
Đang vận hành |
|||
|
9 |
ĐD 220 kV 04 mạch Trạm cắt 220 kV Đắk Ooc – Rẽ Xekaman 3 – Thạnh Mỹ |
220 |
Đang vận hành |
||
|
10 |
ĐD 220 kV 02 mạch cụm TĐ Xekaman 1 – TBA 500 kV Pleiku 2 |
220 |
Đang vận hành |
465 |
465 |
|
11 |
ĐD 220 kV 04 mạch Trạm cắt 220 kV Bờ Y rẽ TĐ Xekaman 1 – Pleiku 2 |
220 |
Đang vận hành |
||
|
12 |
ĐD 500 kV 02 mạch Hatsan (Lào) – Kon Tum |
500 |
2031-2035 |
793 |
553 |
|
13 |
ĐD HVDC Trạm gom Sam Neua 2 - HVDC Việt - Lào miền Bắc |
800 |
2031-2035 |
7.654 |
6.736 |
|
14 |
ĐD HVDC Trạm gom Sekong - HVDC Việt - Lào miền Nam |
800 |
2031-2035 |
5.772 |
4.841 |
|
|
Tổng |
|
|
24.647 |
20.477 |
4.3. Giải pháp tổng thể
Giai đoạn đến năm 2030: Theo danh mục các liên kết Lào – Việt được xác định trong định hướng Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, tiến độ khả thi đến năm 2030 cho phép hệ thống điện Việt Nam tiếp nhận tổng công suất khoảng 8,3 GW từ các nguồn điện nhập khẩu tại Lào, có xét đến các giới hạn truyền tải trên các giao diện Bắc – Trung và Trung – Nam. Khi tính đến hệ số đồng thời của các nguồn điện gió khoảng 0,8, tổng công suất đặt tương ứng của các nguồn điện nhập khẩu có thể đạt tới 9,8 GW.
Giai đoạn 2031 – 2035: Theo danh mục các liên kết Lào – Việt trong Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, cùng với việc xây dựng trục đường dây tăng cường liên kết phía Lào để thu gom công suất và cấp điện cho khu vực phụ tải miền Bắc và miền Nam Việt Nam, tổng công suất nhập khẩu tối đa có thể đạt khoảng 20,5 GW xét trên góc độ vận hành hệ thống. Trong bối cảnh phụ tải dự kiến tiếp tục tăng cao, việc khai thác tối đa tiềm năng nhập khẩu từ Lào với tổng công suất lên đến 25,3 GW là hết sức cần thiết.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, đồng thời nâng cao độ tin cậy và an toàn của hệ thống điện Việt Nam khi tiếp nhận lượng lớn công suất nhập khẩu từ Lào, PECC2 kiến nghị các giải pháp hạ tầng trọng yếu sau:
5. Các nhận định và đề xuất
Dưới góc nhìn kỹ thuật – hệ thống, kết quả tính toán cho thấy rủi ro thiếu hụt điện năng tăng nhanh nếu một phần nguồn LNG (~5.300 MW) và/hoặc ĐGNK (~3.000 MW) chậm tiến độ. Ở các kịch bản bất lợi, mức thiếu hụt tích lũy có thể lên tới 8,52 – 45,93 tỷ kWh tùy năm và kịch bản. Trong bối cảnh đó, tăng cường nhập khẩu điện (từ Lào, Trung Quốc) phát huy vai trò “đệm an ninh” rõ rệt: với phương án nâng quy mô nhập khẩu, hệ thống chuyển từ trạng thái thiếu sang dư dự phòng cỡ 31,19 – 66,23 tỷ kWh ở một số năm, qua đó cải thiện đáng kể độ tin cậy cung cấp điện toàn quốc.
Về hạ tầng truyền tải, nút thắt chính hiện nằm ở các giao diện liên miền và các tuyến liên kết biên giới còn hạn chế khả năng mang tải. Kết quả mô phỏng tính toán đến năm 2030 ghi nhận tổng năng lực hấp thụ theo tiêu chí N-1 của các liên kết Lào – Việt chỉ khoảng 8,35 GW. Mức này phù hợp với định hướng trong Quy hoạch điện VIII điều chỉnh của Việt Nam nhưng thấp hơn đáng kể so với quy mô nguồn tiềm năng phía Lào. Vì vậy, ngoài việc hoàn thành đúng tiến độ danh mục 220 – 500 kV hiện hữu, cần đồng bộ các giải pháp: (i) bố trí kháng/tụ bù phù hợp để bảo đảm ổn định điện áp khi tăng công suất nhập khẩu; (ii) bypass/điều chỉnh bù dọc ở các tuyến 500 kV then chốt (ví dụ Nghi Sơn – Nho Quan) nhằm gỡ nghẽn; và (iii) xem xét sớm cấu hình trạm gom HVDC cho các cụm nguồn lớn phía Lào, đấu nối về các trung tâm phụ tải Bắc và Nam để nâng trần năng lực nhập khẩu.
Về vận hành nguồn, mô phỏng cho thấy việc kết hợp nhập khẩu thủy điện (ổn định, điều chỉnh nhanh) với điện gió (quy mô lớn, biến động) yêu cầu một cơ chế điều độ linh hoạt hơn ở biên giới tiếp nhận. Khuyến nghị triển khai mô hình hybrid thủy điện – NLTT tại các điểm hấp thụ chính: thủy điện đảm trách san bằng ngắn hạn, còn gió phát tối đa theo khả dụng; đồng thời trang bị EMS (Energy Management System) cấp cụm để tối ưu ràng buộc đường dây, dự phòng quay và giới hạn điện áp. Với cấu hình này, công suất nhập khẩu khả dụng theo N-1 có thể tiến gần các ngưỡng tính toán cao hơn trong giai đoạn 2031–2035 khi bổ sung trục 500 kV và HVDC.
Về lộ trình, kiến nghị chia hai giai đoạn:
Cuối cùng, để bảo đảm hiệu quả dài hạn, cần phát triển đồng thời cả khung thương mại và kỹ thuật. Điều này bao gồm: các hợp đồng linh hoạt theo thời gian (time-of-delivery) gắn với ràng buộc lưới; cơ chế chia sẻ lợi ích và chi phí truyền tải xuyên biên giới; và quy trình điều độ phối hợp (voltage/reactive coordination, UFLS/UVLS liên vùng) đáp ứng yêu cầu N-0/N-1 khi quy mô nhập khẩu vượt 10–20 GW. Những bước này không chỉ giải quyết tình trạng thiếu hụt nguồn điện trong giai đoạn 2026–2035 mà còn tạo nền tảng cho một hành lang nhập khẩu bền vững, phù hợp với mục tiêu giảm phát thải và an ninh năng lượng quốc gia.
Tài liệu tham khảo:
[1] National Power System and Market Operator Company (NSMO), "Hệ thống điện quốc gia lập kỷ lục công suất mới do nắng nóng gay gắt kéo dài," 4 August 2025. [Online]. Available: https://www.evn.com.vn/d/vi-VN/news/He-thong-dien-quoc-gia-lap-ky-luc-cong-suat-moi-do-nang-nong-gay-gat-keo-dai-60-12-503982. [Accessed 10 November 2025].
[2] I. E. A. (IEA), Integrating Power Systems across Borders, Paris: International Energy Agency, 2019.
[3] J. Beyza, P. Gil, M. Masera and J. M. Yusta, "Security assessment of cross-border electricity interconnections," Reliability Engineering & System Safety, vol. 200, p. 107001, 2020.
Trích Tạp chí Phân tích và nhận định của PECC2 về Triển vọng Phát triển Năng lượng Việt Nam - Ấn bản 2025